LightBlog

Xuất khẩu lao động tại chỗ: Lợi đôi đường

Xuất khẩu lao động tại chỗ là hình thức cung ứng sức lao động cho các tổ chức kinh tế nước ngoài hoạt động ở Việt Nam (bao gồm các xí nghiệp có vồn đầu tư nước ngoài; các khu chế xuất, khu công nghiệp, khu công nghệ cao; các tổ chức cơ quan ngoại giao của nước ngoài tại Việt Nam).

Xuất khẩu lao động tại chỗ: Lợi đôi đường
Nâng cao trình độ sẽ là chìa khóa để giải bài toán xuất khẩu lao động tại chỗ. Ảnh: Trần Việt.

Hiện nay, xuất khẩu lao động tại chỗ là một nhu cầu tất yếu, vừa phục vụ cho quá trình phát triển kinh tế, vừa góp phần thực hiện chương trình quốc gia về việc làm, đồng thời còn khắc phục đáng kể những bất cập của hoạt động xuất khẩu lao động trực tiếp.

Nhiều thuận lợi

Theo Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, trong năm 2016, đã có 126.296 lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài (46.029 lao động nữ; chiếm 36,45%); vượt 26,29% so với kế hoạch năm và bằng 108,89% so với năm 2015. Đây là năm thứ ba liên tiếp số lượng lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài vượt mức 100.000 lao động góp phần đáng kể vào việc giải quyết tình trạng thất nghiệp trong nước. Tuy nhiên việc xuất khẩu lao động đi làm việc tại nước ngoài cũng nảy sinh nhiều tồn tại và bộc lộ nhiều hạn chế như: Người lao động bỏ trốn khỏi nơi làm việc, đơn phương chấm dứt hợp đồng, bỏ ra ngoài làm việc bất hợp pháp, vi phạm luật pháp của nước sở tại, xung đột về văn hóa và nhiều tác động tiêu cực khác…. Điều này gây thiệt hại không chỉ đối với Nhà nước, các doanh nghiệp xuất khẩu lao động và mà còn với cả người lao động Việt Nam.

Việc Việt Nam gia nhập Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) và các hiệp định thương mại khác đồng nghĩa với việc sẽ đón nhận nhiều cơ hội mới nhưng cũng sẽ có nhiều thách thức lớn được đặt ra đối với lao động Việt Nam. Thị trường lao động sẽ trở nên sôi động hơn, mang tới cho cả doanh nghiệp và người lao động những cơ hội để phát triển. Việc hội nhập quốc tế giúp lượng vốn FDI vào nước ta ngày càng gia tăng kèm theo đó là sự ra đời của các doanh nghiệp FDI. Xuất khẩu lao động tại chỗ cũng có thêm nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển. Theo dự báo của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) thì khi tham gia vào thị trường ASEAN, số việc làm của Việt Nam đến năm 2025 có thể tăng lên 14,5%. Điều này có nghĩa, Việt Nam đang có hơn 53 triệu lao động và sẽ có thêm 14,5 triệu lao động khác tìm được việc làm từ nay cho đến năm 2025.

Thực tế ở nhiều quốc gia cho thấy, xuất khẩu lao động tại chỗ diễn ra phổ biến ở những vùng kinh tế phát triển, những thành phố lớn của quốc gia đó. Vì không có sự di chuyển ra khỏi biên giới quốc gia nên người lao động có thể dễ dàng tiếp cận các thông tin về việc làm của các tổ chức, doanh nghiệp và trực tiếp thỏa thuận, thi tuyển. Điều dễ dàng nhận thấy là, xuất khẩu lao động tại chỗ làm tăng việc làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp trong nền kinh tế.

Yêu cầu DN FDI cam kết

Bên cạnh những thuận lợi, những cơ hội nhìn thấy được từ một không gian thị trường rộng lớn là những khó khăn thách thức và sự cạnh tranh gay gắt. Vấn đề lớn của xuất khẩu lao động tại chỗ ở Việt Nam là tình trạng vừa thừa, vừa thiếu lao động. Thừa lao động tay nghề thấp hoặc chưa qua đào tạo. Thiếu lao động tay nghề cao, đào tạo hợp chuẩn để đáp ứng nhu cầu tuyển dụng. Hiện nay, tỷ lệ những người quản lý cấp cao (CEO) tại các doanh nghiệp FDI là người Việt Nam có trình độ chuyên môn cao, nghiệp vụ vững vàng, nhiều kinh nghiệm, ngoại ngữ tốt vẫn còn rất khiêm tốn. Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, năng suất lao động bình quân của người Việt vẫn đang ở mức rất thấp so với một số nước ngay trong khu vực. Cụ thể, năng suất lao động của Việt Nam chỉ bằng 4,4% của Singapore, bằng 17,4% của Malaysia, 35,2% của Thái Lan; 48,5% của Philippines và 48,8% của Indonesia.

Theo ông Shinru Fukasawa, Tổng Giám đốc Công ty sản xuất phanh Nissin Việt Nam (khu công nghiệp Khai Quang, TP. Vĩnh Yên), hiện công ty đang có hơn 2.100 lao động, số lượng lao động trong công ty có thể cao hơn rất nhiều nếu chất lượng lao động trong nước đáp ứng được yêu cầu của doanh nghiệp. Vì vậy, đào tạo và đặc biệt đào tạo nghề đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế về lao động để hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài là biện pháp đầu tiên cần phải làm để nâng cao khả năng xuất khẩu lao động tại chỗ ở nước ta. Thông qua sự tham gia trực tiếp vào hoạt động của các doanh nghiệp FDI, Việt Nam sẽ từng bước hình thành đội ngũ cán bộ quản lý, công nhân kỹ thuật có trình độ tay nghề cao, từng bước tiếp cận được với khoa học, kỹ thuật, công nghệ cao và có tác phong công nghiệp hiện đại, có kỷ luật lao động tốt, học hỏi được các phương thức, kinh nghiệm quản lý tiên tiến. Từ đó, phát triển nguồn nhân lực phù hợp với yêu cầu của thị trường và hướng đi của thế giới.

Bên cạnh đó, sự dịch chuyển lao động sẽ tạo nên môi trường cạnh tranh gay gắt, góp phần gia tăng sự mất cân đối trong cung – cầu lao động trong nước, đặc biệt là nguồn cung về lao động có kỹ năng, trình độ cao. Trong khi nguồn cung trong nước hạn chế thì dòng dịch chuyển lao động có trình độ cao của nước ngoài sẽ chiếm lĩnh các vị trí việc làm đòi hỏi trình độ cao trong thị trường lao động của Việt Nam. Hiện nay, đang diễn ra tình trạng có không ít cơ sở sản xuất không tuyển được công nhân kỹ thuật cao khiến sản xuất bị đình trệ, công nhân kỹ thuật ra trường không được sử dụng đúng tay nghề vì đào tạo trong trường không theo kịp những công nghệ mới. Tình trạng khan hiếm công nhân kỹ thuật cao đang là mối quan tâm hàng đầu của các doanh nghiệp nói chung, nhất là các doanh nghiệp FDI.

Để giải quyết tình trạng trên, Nhà nước cần mở cửa lĩnh vực đào tạo cán bộ kỹ thuật cho các tổ chức, nhà trường, doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, thậm chí cho cả khu vực có vốn đầu tư nước ngoài. Việc này giúp người lao động có kỹ năng, nghiệp vụ vững vàng, do đó, cơ hội có việc làm cũng dễ dàng hơn; giúp họ tiếp nhận được sự chuyển giao khoa học - công nghệ, kỹ thuật hiện đại một cách trực tiếp từ các chuyên gia quốc tế; giúp lao động nước ta có thể cạnh tranh với lao động nước ngoài ngay trên mảnh đất quê hương.

Theo Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội Đào Ngọc Dung, Bộ sẽ nghiên cứu chính sách để ràng buộc doanh nghiệp FDI sử dụng lao động lâu dài, trước hết là chính sách trong quá trình tuyển dụng và sa thải, nghỉ việc người lao động.
Share on Google Plus

About JW Tuấn Vũ

0 nhận xét:

Đăng nhận xét